CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
-------------------------
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN HIỆU QUẢ ÁP DỤNG, PHẠM VI ẢNH HƯỞNG SÁNG KIẾN
Kính gửi: - UBND huyện Tiền Hải
- Phòng Giáo dục và Đào tạo Tiền Hải.
Họ và tên: .
Năm sinh:
Nơi thường trú:
Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm.
Chức vụ công tác: Giáo viên 4-5 Tuổi.
Nơi làm việc:
Điện thoại:
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 100 %
Là tác giả đề nghị xét công nhận hiệu quả áp dụng, phạm vi ảnh hưởng sáng kiến :
Tên sáng kiến: "Một số biện pháp tích hợp giáo dục quyền con người trong các hoạt động cho trẻ 4-5 tuổi tại trường mầm non."
- Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến :
- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục mầm non.
- Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ ngày 05 tháng 9 năm 2024 đến ngày 20 tháng 5 năm 2025.
- Đơn vị áp dụng sáng kiến: Trường mầm non
- Địa chỉ:
Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong hồ sơ là trung thực, đánh giá đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Nam Hải, ngày 20 tháng 05 năm 2025
Tác giả
(Ký và ghi rõ họ tên)
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
Hiệu quả áp dụng, phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến
I. Tên sáng kiến:
"Một số giải pháp tích hợp giáo dục quyền con người trong các hoạt động cho trẻ 4-5 tuổi tại trường mầm non."
II. Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến:
Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh từng tuyên bố trong bản tuyên ngôn độc lập: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Quyền con người là một khái niệm rộng lớn đã và vẫn đang được cả thế giới và Việt Nam quan tâm, giáo dục quyền con người đang ngày càng được chú trọng. Năm học 2024- 2025, nội dung giáo dục quyền con người đã được Phòng giáo dục đào tạo huyện Tiền Hải tổ chức tập huấn và chỉ đạo đưa vào chương trình chăm sóc giáo dục trẻ tại các trường mầm non. Việc đưa giáo dục quyền con người cho trẻ mầm non không chỉ giúp trẻ nhận biết về các quyền và nghĩa vụ của bản thân mà còn là bước đệm quan trọng trong việc hình thành cho trẻ những nền tảng đạo đức khi trưởng thành như lòng nhân ái, tôn trọng sự bình đẳng, tinh thần trách nhiệm và các kỹ năng xã hội. Đặc điểm tư duy của trẻ mầm non là tư duy trực quan, trẻ chưa biết đọc biết viết, nhận thức của trẻ phụ thuộc rất nhiều vào mọi người xung quanh, nhất là những giáo viên mầm non đang hàng ngày trực tiếp chăm sóc dạy dỗ trẻ. Tuy nhiên cho đến hiện nay nội dung giáo dục quyền con người cho trẻ có rất ít các tài liệu để tham khảo học tập, nên giáo viên Mầm non còn bỡ ngỡ , khó khăn trong giáo dục quyền con người cho trẻ .Một số phụ huynh chưa nhận thức đúng về tầm quan trọng bậc học mầm non cũng như nội dung giáo dục quyền con người cho trẻ. Vì vậy thiếu hợp tác, chưa thống nhất về quan điểm phương pháp trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ với giáo viên nên đã ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả giáo dục cho trẻ mầm non.
Trước những thực trạng trên, với mong muốn giáo dục quyền con người cho trẻ đạt hiệu quả tốt hơn, tôi đã quyết định chọn đề tài “Một số biện pháp tích hợp giáo dục quyền con người trong các hoạt động cho trẻ 4 -5 tuổi tại trường Mầm non” làm đề tài nghiên cứu.
III. Mô tả giải pháp kỹ thuật
III.1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
Điểm mới của đề tài: Sáng kiến kinh nghiệm với các biện pháp được trình bày dưới đây dựa trên tình hình thực tế hàng ngày trong các hoạt động của trẻ tại trường, lớp và gia đình, nó mang tính sát thực và phù hợp với nhận thức của trẻ mầm non. Giúp cho bản thân giáo viên nắm chắc phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục quyền con người cho trẻ. Qua đó góp phần giáo dục trẻ phát triển toàn diện cả về Đức, Trí, Thể, Mỹ, Lao động.
Trường Mầm non Nam Hải nơi tôi công tác là một ngôi trường có bề dày thành tích về chất lượng đội ngũ và chuyên môn giảng dạy. Ban giám hiệu nhà trường có kinh nghiệm, năng lực chuyên môn , cùng với đội ngũ giáo viên nhiệt tình tâm huyết yêu nghề mến trẻ, có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn. Cơ sở vật chất ngày được nâng lên, trang thiết bị dạy và học trong lớp được mua sắm bổ sung tương đối đầy đủ, lớp học được bố trí ngăn nắp, gọn gàng, sạch đẹp, rộng rãi thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông.
Đặc biệt BGH luôn sâu sát trong công tác chuyên môn, cho cán bộ giáo viên tham gia đầy đủ các buổi tập huấn, chuyên đề, hội thi do PGD, cụm và trường tổ chức. Đa số học sinh đã học qua lớp mẫu giáo 3-4 tuổi, trẻ năng động, có khả năng nhận thức tốt. Bản thân là một giáo viên trẻ khỏe, nhiệt tình tâm huyết, tích cực học hỏi, tìm tòi vận dụng các phương pháp giáo dục tiên tiến hiện đại, đổi mới hình thức tổ chức các hoạt động cho trẻ. Tích cực ứng dụng cộng nghệ thông tin, làm và sử dụng đồ dùng đồ chơi hiệu quả.
Tuy nhiên trước khi xây dựng và áp dụng các biện pháp tích hợp giáo dục quyền con người vào trong các hoạt động cho trẻ 4-5 tuổi, trong quá trình giảng dạy và chăm sóc trẻ giáo viên mầm non còn hạn chế trong việc hiểu và vận dụng nội dung giáo dục quyền con người phù hợp với độ tuổi của trẻ. Nhiều người chưa xác định rõ khái niệm quyền con người ở lứa tuổi mầm non là gì và dạy như thế nào cho phù hợp.
Giáo dục quyền con người chưa được lồng ghép một cách hệ thống, chủ yếu mới chỉ lồng ghép tự phát qua các hoạt động dạy học đơn lẻ như kể chuyện, trò chuyện, làm quen văn học mà chưa có kế hoạch cụ thể, rõ ràng. Trẻ chưa được tạo điều kiện thể hiện quyền của mình: Trẻ ít có cơ hội được thể hiện ý kiến, được lựa chọn hoạt động yêu thích, chưa được khuyến khích bày tỏ quan điểm cá nhân hay tham gia vào việc xây dựng nội quy nhóm/lớp. Các tài liệu, học liệu minh họa cho nội dung giáo dục quyền con người còn hạn chế. Phương pháp tổ chức hoạt động đôi khi chưa phù hợp với khả năng tiếp nhận của trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi.
Một số phụ huynh nhận thức chưa đúng, chưa đủ về tầm quan trọng của giáo dục mầm non cũng như nội dung giáo dục quyền con người cho trẻ, nên đôi khi quá nuông chiều trẻ mà chưa dạy trẻ cần có bổn phận hay trách nhiệm gì, chưa tích cực hợp tác với giáo viên trong CSNDGD trẻ.
Vì thế tôi luôn trăn trở suy nghĩ mình cần làm gì, làm thế nào để đưa nội dung giáo dục quyền con người cho trẻ đạt hiệu quả tốt hơn nên tôi đã lựa chọn và đưa ra các biện pháp thực hiện đề tài của mình. Để quá trình thực hiện các biện pháp đạt
hiệu quả tôi đã tiến hành khảo sát đầu năm để đánh giá thực trạng:
Bảng khảo sát đầu năm học 2024 – 2025 như sau:
Số trẻ: 20 học sinh
STT
Tiêu chí khảo sát
Đạt
Chưa đạt
Số trẻ
Tỷ lệ
Số trẻ
Tỷ lệ
1
Trẻ hào hứng, mạnh dạn, tự tin tham gia các hoạt động tại lớp
8/20
40%
12/20
60%
2
Trẻ có những hiểu biết về quyền con người
5/20
25%
15/20
75%
3
Trẻ có kiến thức về bảo vệ bản thân
7/20
35%
13/20
65%
4
Trẻ biết tôn trọng quyền lợi của người khác
6/20
30%
14/20
70%
5
Trẻ biết hợp tác, chia sẻ với bạn bè
7/20
35%
13/20
65%
Qua bảng kết quả khảo sát trên tôi thấy rằng việc giáo dục quyền con người cho trẻ mầm non nhất là trẻ 4-5 tuổi còn rất hạn chế, để khắc phục và giải quyết thực trạng trên tôi đã thực hiện như sau:
III.2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
Giải pháp 1: Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho bản thân
Trước hết tôi không ngừng tự học, bồi dưỡng kiến thức nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, tích lũy kinh nghiệm, nâng cao năng lực, kỹ năng sư phạm của bản thân, trang bị cho mình những kiến thức, kỹ năng tốt nhất để áp dụng vào công tác nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ. Tích cực tham khảo, nghiên cứu các tài liệu: chương trình chăm sóc giáo dục trẻ theo hướng đổi mới, các tài liệu bồi dưỡng chuyên môn, tham khảo các tạp chí giáo dục mầm non… Nhất là Luật trẻ em đang hiện hành để nắm và hiểu rõ về các quyền và bổn phận của trẻ, 05 nguyên tắc bảo đảm thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em tại Điều 5, Luật Trẻ em 2016, Luật số 102/2016/QH13.Tham gia đầy đủ các buổi tập huấn, chuyên đề do các cấp tổ chức một cách nghiêm túc với tinh thần học hỏi và cầu thị. Từ đó tôi áp dụng vào việc lựa chọn các nội dung giáo dục về quyền con người để lồng ghép, tích hợp vào các hoạt động cho phù hợp với sự phát triển của trẻ một cách nhẹ nhàng, tự nhiên .
Hình ảnh 1: Tập huấn bồi dưỡng chuyên môn về giáo dục quyền con người
Bên cạnh đó tôi còn dành thời gian vào việc học hỏi, nghiên cứu các tài liệu liên quan đến các phương pháp giáo dục mới, tiên tiến, hiện đại như: phương pháp STEM/STEAM, Reggio Emilia, Montessori... hay ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy như PowerPoint, phần mềm AI, Canva... để hỗ trợ cho việc lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục quyền con người cho trẻ 4-5 tuổi vào trong các hoạt động hàng ngày cho trẻ tại hiệu quả hơn.
Giải pháp 2: Xây dựng môi trường giáo dục đảm bảo quyền của trẻ em
Với tôi để giáo dục quyền con người cho trẻ trước hết cần phải xây dựng môi trường giáo dục đảm bảo quyền trẻ em. Đó là một môi trường giáo dục thân thiện, tích cực theo hướng lấy trẻ làm trung tâm, mà ở đó trẻ được đảm bảo an toàn cả về thể chất lần tinh thần,, được thoả sức sáng tạo và thể hiện để “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”. Môi trường giáo dục bao gồm:
Môi trường bên trong lớp học
Trước hết cô giáo phải niềm nở ân cân cần, yêu thương và đối xử công bằng với trẻ. Cô cần biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của trẻ, luôn đồng hành cùng trẻ, cô vừa là mẹ vừa là bạn của trẻ tạo cho trẻ cảm giác thoải mái và thấy mình được an toàn,, được yêu thương và tôn trọng. Đó là lớp học được trang trí, sắp xếp các góc chơi theo hướng mở để trẻ được thể hiện khả năng sáng tạo và ý tưởng của mình.
Ví dụ: Ở mỗi chủ đề tôi trò chuyện cùng trẻ để trẻ được nói lên ý kiến của bản thân về việc trang trí lớp học và sắp xếp các góc chơi. Sau đó cho trẻ cùng cô chuẩn bị các đồ dùng đồ chơi, sắp xếp các góc chơi, trang trí lớp cho chủ đề mới. Qua đó trẻ được công nhận, được tôn trọng nên trẻ dần tự tin và tự hào về bản thân hơn. Trẻ rất thích thú và chủ động tham gia.Môi trường lớp học tôi trang kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, đồ dùng đồ chơi ở các góc phong phú đa dạng để trẻ có quyền được tự chọn ý tưởng và cách chơi riêng. Nhờ đó vừa thoả mãn nhu cầu của trẻ đồng thời thu hút hứng thú, phát huy tính tích cực và khả năng sáng tạo của trẻ nên lớp học của tôi được đánh giá là đẹp, phù hợp, sáng tạo đặc biệt là được trẻ yêu thích vì đó là 1 không gian mở, trẻ có nhiều cơ hội để thoả sức sáng tạo.
b. Môi trường bên ngoài lớp học
Tôi đã tích cực trong việc tham mưu với BGH xây dựng môi trường ngoài lớp học phù hợp, thẩm mĩ, khoa học và thu hút trẻ. Đó là in ấn các hình ảnh kèm những nội dung giáo dục trẻ qua những bài thơ ngắn dễ thuộc treo xung quanh sân trường cho trẻ dễ thấy dễ học, xây dựng thư viện của bé, trang trí vườn cổ tích, vườn bách thú, sân chơi thể chất... để trẻ có cơ hội được vui chơi và học tập ở mọi lúc mọi nơi.Bên cạnh đó tôi còn huy động phụ huynh mua hoa, chậu cảnh trang trí bên ngoài hành lang lớp học, tạo vườn hoa của bé...để vừa làm đẹp vừa tạo không khí trong lành cho trẻ để thu hút trẻ khi bước chân vào trường, tạo cho trẻ cảm giác vui vẻ yêu trường lớp hơn.
Hình ảnh 2 : Trang trí ngoài lớp học
c. Đảm bảo an toàn cho trẻ mọi lúc, mọi nơi trong mọi hoạt động
Đây luôn là nhiệm vụ được tôi quan tâm hàng đầu trong công tác CSNDGD trẻ. Đồ dùng đồ chơi, các khu vực trong lớp luôn được được vệ sinh sạch sẽ đảm bảo an toàn đối với trẻ.Với những đồ dùng, đồ chơi sắc nhọn như dao, kéo, búa, đinh, máy xay, ổ điện...trước khi cho trẻ sử dụng tôi luôn dành thời gian giới thiệu, hướng dẫn trẻ cách sử dụng để đảm bảo an toàn cho bản thân và mọi người xung quanh. Khi trẻ sử dụng tôi cũng luôn nhắc nhở quan sát hỗ trợ trẻ khi cần thiết để tránh xảy ra tai nạn thương tích cho trẻ.
Việc đảm bảo an toàn cho trẻ với tôi không chỉ về thể chất mà còn cả về tinh thần. Trong mọi hoạt động, tôi không quát mắng doạ nạt trẻ mà luôn chú ý lắng nghe tôn trọng ý kiến của trẻ và khuyến khích động viên trẻ. Chú trọng xây dựng tập thể lớp đoàn kết, tạo cho trẻ một không khí vui vẻ thoải mái để trẻ thấy được an toàn và mạnh dạn tự tin khi đến lớp.
Bằng việc tạo cho trẻ một môi trường giáo dục đảm bảo quyền cho trẻ, một môi trường thân thiện, tích cực luôn lấy trẻ làm trung tâm tôi thấy trẻ luôn hào hứng chủ động, mạnh dạn tự tin thể hiện năng lực và khả năng sáng tạo của mình. Trẻ ngày càng yêu trường lớp, yêu bạn bè và cô giáo, thích đi học và cảm thấy vui vẻ hạnh phúc khi đến trường đến lớp nhờ đó chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ngày càng đạt hiệu quả cao hơn.
Giải pháp 3: Tích hợp giáo dục quyền con người thông qua các hoạt động tại trường Mầm non
Trẻ mầm non nhận thức và ngôn ngữ của trẻ còn hạn chế, trẻ chưa biết đọc biết viết nên việc giáo dục quyền con người cho trẻ cần được lồng ghép tích hợp một cách linh hoạt thông qua các hoạt động, các tình huống hàng ngày của trẻ.
a. Thông qua hoạt động đón, trả trẻ:
Tôi luôn niềm nở, ân cần khi đón và trả trẻ, để trẻ cảm nhận được trẻ được cô yêu thương nên rất vui vẻ chào bố mẹ để vào lớp cùng cô. Trong giờ đón trả trẻ tôi đã tận dụng những tình huống thực tế để giáo dục cho trẻ về quyền của trẻ em.
Ví dụ: Khi có trẻ xin phép nghỉ ốm, tôi đã đặt ra cho trẻ 1 số câu hỏi để trẻ cùng nhau suy nghĩ và trả lời như: Nếu bị ốm thì chúng mình cần làm gì? Ốm mà không uống thuốc thì điều gì sẽ xảy ra? Như vậy tôi đã cho trẻ được nói, được trao đổi về quyền và bổn phận của trẻ trong 1 tình huống cụ thể là khi bị ốm: đó là trẻ có quyền được thăm khám, được điều trị, nghỉ ngơi và chăm sóc... Đồng thời giáo dục cho trẻ cũng phải có trách nhiệm với bản thân là báo cho người thân hay người bên cạnh biết, cần nhờ bố mẹ xin phép cô giáo nghỉ học, cần phải uống thuốc (phối hợp để điều trị), cố gắng ăn uống và nghỉ ngơi để mau khoẻ...
b.Thông qua hoạt động học
Để giáo dục quyền con người cho trẻ, có lúc tôi đã xây dựng thành các đề tài cụ thể gần gũi, thiết thực với trẻ như thông qua các hoạt động giáo dục tình cảm và kỹ năng xã hội cho trẻ như: dạy trẻ kĩ năng tự bảo vệ bản thân theo “Quy tắc 5 ngón tay”, kỹ năng vệ sinh cá nhân, kỹ năng phòng tránh những nơi nguy hiểm, nói lời cảm ơn, xin lỗi, chia sẻ yêu thương, không nhận quà và đi theo người lạ, kỹ năng phòng tránh đuối nước… Qua đó tôi không chỉ giáo dục trẻ kỹ năng bảo vệ, chăm sóc bản thân mà còn là ý thức trách nhiệm với mọi người xung quanh.
Hình ảnh 3: Dạy trẻ kỹ năng bảo vệ bản thân theo quy tắc 5 ngón tay
Có lúc tôi lại lựa chọn tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục quyền con người vào các tiết dạy một cách linh hoạt phù hợp mà vẫn đảm bảo bổ trợ cho nội dung chính một cách sâu sắc hơn.
Ví dụ: Với hoạt động kể chuyện, tôi đã kể cho trẻ nghe nội dung câu chuyện “Tích Chu” qua mô hình rối.Được nghe cô kể chuyện, được quan sát các nhân vật bằng rối cô kể tạo cho trẻ sự tò mò, hứng thú say mê với hoạt động kể chuyện. Qua đó cô đàm thoại cùng trẻ: Ban đầu Tích Chu là cậu bé như thế nào?Tích Chu có yêu thương bà không? Khi bà bị ốm thì Tích Chu đã làm gì? Điều gì đã xảy ra khi không ai lấy nước cho bà uống? Cuối cùng Tích Chu có nhận ra lỗi của mình không? Khi nhận ra lỗi của mình thì Tích chu đã làm gì? Con học tập bạn Tích Chu điều gì ? Vì sao?... Đó là những câu hỏi đàm thoại đã giúp trẻ ghi nhớ khắc sâu được nội dung của câu chuyện một cách hiệu quả. Ngoài ra tôi còn cho trẻ đóng kịch, trẻ được quyền lựa chọn sắm vai các nhân vật, được thể hiện khả năng diễn xuất khi nhập vai trong tình huống của truyện tuỳ theo khả năng và mong muốn của trẻ một cách dí dỏm, hồn nhiên đầy sáng tạo. Qua đó tôi vừa giáo dục cho trẻ biết về quyền của trẻ là được yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhưng đồng thời cũng giáo dục trẻ phải luôn ngoan ngoãn vâng lời ông bà, bố mẹ,biết yêu thương,quan tâm,chia sẻ và giúp đỡ mọi người, biết chăm sóc người thân khi người thân bị ốm... Từ đó hình thành cho trẻ lòng nhân ái với mọi người xung quanh.
Hình ảnh 4: Cô dạy truyện tích chu
Ví Dụ: Với hoạt động giáo dục stem/steam “Thiết kế ngôi nhà”, Tôi cho trẻ xem video mưa lũ ở miền Bắc do ảnh hưởng của cơn bão Yaki đã gây thiệt hại nặng nề làm cho rất nhiều bạn nhỏ đã không còn nhà để ở. Qua đó khơi gợi ở trẻ lòng yêu thương đồng bào, các bạn nhỏ vùng lũ từ đó trẻ có ý tưởng thiết kế những ngôi nhà để ủng hộ bà con vùng lũ. Tôi cho trẻ thảo luận theo nhóm, tự lựa chọn bản vẽ, được quyền tự do lựa chọn nguyên vật liệu phù hợp với bản vẽ của nhóm mình để thực hiện theo ý tưởng của nhóm nên trẻ rất hào hứng,tích cực hoạt động và cố gắng để hoàn thiện.
Hình ảnh 5: Trẻ thiết kế ngôi nhà
Điều tôi thích nhất ở phương pháp giáo dục STEM/ STEAM này là luôn lấy trẻ làm trung tâm, trẻ được tôn trọng, được chủ động trong mọi hoạt động và thể hiện hết năng lực cá nhân và khả năng sáng tạo của trẻ.
c. Thông qua hoạt động vui chơi
Hoạt động chơi ngoài trời là một trong những hoạt động vui chơi hàng ngày của trẻ ở trường mầm non được diễn ra sau hoạt động học. Đây là một hoạt động giúp cho trẻ được vui chơi thư giãn hít thở không khí trong lành, được hòa mình vào thiên nhiên cỏ cây hoa lá, được thỏa mãn nhu cầu vui chơi ngoài trời sau thời gian học tập giúp cho các con phát triển về mặt thể chất cũng như tinh thần và trí tuệ. Đối với hoạt động này tôi luôn lựa chọn xây dựng những nội dung gần gũi, nhẹ nhàng và thu hút sự hứng thú của trẻ, luôn tạo cơ hội cho tất cả mọi trẻ đều tích cực tham gia. Đó có khi là hoạt động trải nghiệm thực tế, khám phá có khi lại cùng cô trò chuyện quan sát về thế giới xung quanh: Tìm hiểu quan sát hoa vườn trường, những thí nghiệm thú vị, kết hợp các trò chơi vận động như : hang chuột nhỏ, kéo co, bịt mắt đập bóng và các nội dung chơi tự do theo ý thích.
Hình ảnh 6: Hoạt động vui chơi của bé
Trong những buổi chơi ngoài trời đó tôi luôn tạo cơ hội cho trẻ được quyền đưa ra ý kiến, được tự do lựa chọn trò chơi, nội dung chơi theo ý riêng của mình, Bên cạnh đó trong quá trình chơi tôi cũng hướng cho trẻ biết tuân thủ các nguyên tắc khi chơi: đó là đoàn kết, chia sẻ, hợp tác và tôn trọng bạn, tôn trọng vai chơi của bạn, giữ gìn đồ dùng đồ chơi... Như vậy là tôi vừa thoả mãn nhu cầu vui của trẻ, vừa tôn trọng trẻ giao cho trẻ quyền được lựa chọn nội dung chơi, trò chơi, vai chơi, đồ chơi, cách chơi… nhưng đồng cũng giáo dục cho trẻ về bổn phận trách nhiệm của trẻ trong khi chơi là tuân thủ luật chơi và nguyên tắc khi chơi. Tôi luôn tôn trọng sự lựa chọn của trẻ, tạo cho trẻ có cảm giác thoải mái, vui vẻ.Nhờ đó trẻ không những cảm thấy vui vẻ đầy thú vị mà còn khắc sâu được nội dung cần giáo dục cho trẻ. Đây chính là khoảng thời gian giúp cô và trẻ gần nhau hơn tăng thêm tình đoàn kết gắn bó tự tin trước tập thể và biết hoạt động nhóm có hiệu quả.
d. Thông qua hoạt động vệ sinh, ăn trưa, ngủ trưa:
Khác với các bậc học khác, trẻ đến trường là ở cùng cô từ sáng sớm tới chiều. Cô giáo ngoài dạy học còn phải dỗ các con. Tôi luôn coi trẻ như các con của mình, chăm sóc cho các con chu đáo từ bữa ăn đến giấc ngủ để cho các con được phát triển khoẻ mạnh, toàn diện về mọi mặt. Đảm bảo tất cả mọi trẻ đều được yêu thương, chăm sóc và đối xử công bằng, không phân biệt giới tính, hoàn cảnh... Đặc biệt với những cháu biếng ăn tôi luôn ân cần dỗ dành để con ăn hết suất, với những con khó ngủ, ngủ ít tôi luôn âu yếm vỗ về để con có giấc ngủ sâu... Nhờ đó mà trẻ cảm nhận sâu sắc được tình yêu thương, sự chăm sóc tận tình của cô giáo dành cho trẻ nên trẻ rất có nề nếp trong sinh hoạt, vâng lời cô, tự giác trong hoạt động vệ sinh cá nhân và chủ động giúp đỡ cô những công việc nhẹ nhàng vừa sức như: kê bàn ghế, chia cơm, sắp xếp đồ dùng, trải- gấp chăn, chiếu…Trẻ trong lớp tôi luôn sạch sẽ gọn gàng, ăn ngủ tốt và phát triển khoẻ mạnh.Có thể nói, mỗi hoạt động đều là những cơ hội để tích hợp lồng ghép giáo dục quyền con người cho trẻ một cách nhẹ nhàng linh hoạt mà lại rất hiệu quả tuỳ vào sự lựa chọn phù hợp và đưa vào hoạt động một cách khéo léo linh hoạt của cô.
Giải pháp 4: Làm tốt công tác phối kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội .
Để giáo dục quyền con người cho trẻ thì trước hết trẻ phải được hưởng đầy đủ các quyền của trẻ theo quy định của pháp luật . Điều đó đòi hỏi phải có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và chung tay dốc sức của toàn xã hội. Bởi việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ không là trách nhiệm của riêng ai mà của cả cộng đồng. Trước hết tôi làm tốt công tác tuyên truyền để mọi trẻ đều được hưởng đầy đủ các quyền của trẻ đó là được đến trường, được chăm sóc yêu thương và đối xử công bằng. Chung tay cùng với nhà trường và phụ huynh tổ chức, các ngày lễ, ngày hội, ngày tết cho trẻ như: tổ chức Ngày Hội đến trường của bé, tổ chức Tết trung thu, Hallooween, Noel, hay tết Nguyên đán… Đặc biệt cũng trong dịp Tết trung thu được sự quan tâm Đoàn thanh niên và tập thể CBGV trong nhà trường đã trao tặng gần 20 suốt quà cho các con có hoàn cảnh khó khăn. Các con được tự tay trang trí, được liên hoan phá cỗ, được hát múa vui vẻ, được múa hát reo hò với những trò chơi … nên các con rất hào hứng thích thú, vui vẻ.
Hình ảnh 7: Bé vui đón Tết trung thu
Bản thân tôi thường xuyên trao đổi với cha mẹ trẻ bằng nhiều hình thức: gặp gỡ trực tiếp, qua zalo, điện thoại… để phụ huynh có cái nhìn, cách hiểu đúng về CSGD trẻ cũng như giáo dục quyền con người cho trẻ. Cập nhật kịp thời tình hình của trẻ để giáo viên và phụ huynh có sự thống nhất chung trong quan điểm, phương pháp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ nói chung và giáo dục quyền con người cho trẻ nói riêng. Chính nhờ đó mà học sinh có sự tiến bộ rõ rệt: các con đều ngoan ngoãn, lễ phép, có ý thức tự giác và biết quan tâm giúp đỡ bạn bè, cô giáo, người thân và xung quanh. Từ đó phụ huynh càng yên tâm, tin tưởng và luôn đồng hành cùng cô trong CSGD trẻ.
IV. Hiệu quả do sáng kiến đem lại:
Sau một thời gian áp dụng các biện pháp trên vào thực tế, được sự giúp đỡ tận tình của ban giám hiệu, các đồng chí tổ trưởng tổ phó chuyên môn, sự ủng hộ nhiệt tình, rút kinh nghiệm của đồng nghiệp qua các giờ dạy, đặc biệt là sự hợp tác của trẻ và sự phối kết hợp ủng hộ của phụ huynh. Bằng tấm lòng tâm huyết với nghề, yêu nghề mến trẻ cùng với sự nỗ lực học hỏi, cố gắng của bản thân trong việc giáo dục quyền con người cho trẻ đã mạng lại hiệu quả cao cụ thể:
IV.1. Hiệu quả kinh tế (Giá trị làm lợi tính thành tiền):
Khi thực hiện một số giải pháp tích hợp giáo dục quyền con người trong các hoạt động cho trẻ 4- 5 tuổi tôi nhận ra rằng đây là một số biện pháp rất hiệu quả mà rất tiết kiệm không hề tốn kém về kinh phí. Làm tốt công tác vận động phụ huynh quyên góp những nguyên vật liệu sẵn có địa phương cũng như tái chế phế liệu đã qua sử dụng để làm đồ dùng đồ chơi, xây dựng môi trường thân thiện tích cực, vận động phụ huynh phối kết hợp cùng nhà trường tổ chức các ngày hội ngày lễ cho trẻ nhằm đảm bảo thực hiện đầy đủ các quyền của trẻ. Qua đó giúp giảm bớt chi phí, tiết kiệm được nguồn kinh phí cho nhà trường khoảng gần 7 triệu đồng cho việc mua sắm các đồ dùng, đồ chơi, học liệu để trang trí trường lớp, tổ chức các ngày hội, ngày lễ cho trẻ.
IV.2. Hiệu quả về mặt xã hội
a.Giá trị làm lợi cho môi trường:
Việc xây dựng môi trường đảm bảo quyền trẻ em góp phần quan trọng vào việc xây dựng một môi trường đảm bảo quyền cho trẻ em, đó là một môi trường giáo dục thân thiện, tích cực, lấy trẻ làm trung tâm. Vừa đảm bảo các quyền cho trẻ em vừa giáo dục cho trẻ có ý thức về bổn phận, trách nhiệm với bản thân, người thân và cộng đồng.Qua đó tuyên truyền tới phụ huynh và cộng đồng cùng chung tay trong việc chăm sóc giáo dục trẻ, xây dựng một môi trường vui vẻ, lành mạnh, hạnh phúc cho trẻ mầm non, những chủ nhân tương lai của đất nước. Góp phần chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục những mầm non tương lai của đất nước phát triển một cách toàn diện hơn.
b. Giá trị làm lợi cho an toàn lao động:
- Tôi đã tiến hành xây dựng được môi trường lớp học đảm bảo quyền trẻ em từ môi trường bên trong cũng như môi trường bên ngoài lớp học luôn sạch sẽ, an toàn, thân thiện gần gũi với trẻ, giúp trẻ có thể lấy đồ dùng đồ chơi và cất đi một cách thuận tiện an toàn.
- Trẻ được trải nghiệm, khám phá, sử dụng những đồ dùng đồ chơi đảm bảo an toàn, thẩm mĩ không gây thương tích và dễ sử dụng.
c. Giá trị làm lợi khác:
* Đối với giáo viên:
- Bản thân tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong việc đưa giáo dục quyền con người vào trong các hoạt động trong ngày cho trẻ mầm non.
- Việc lựa chọn và giáo dục quyền con người cho trẻ ngày càng thiết thực, gần gũi, linh hoạt, dễ hiểu đối với trẻ và được trẻ tiếp nhận một cách nhẹ nhàng, ghi nhớ rất lâu và sâu hơn.
- Được Ban giám hiệu và đồng nghiệp đánh giá và ghi nhận có sự tiến bộ rõ rệt về chuyên môn nghiệp vụ, có nhiều sáng tạo trong việc lồng ghép tích hợp nội dung giáo dục quyền con người vào trong các hoạt động cho trẻ.
- Được phụ huynh tin tưởng, tín nhiệm và yên tâm khi gửi con vào lớp, tích cực phối kết hợp và đồng hành cùng cô trong công tác CSNDGD trẻ nói chung và giáo dục quyền con người cho trẻ nói riêng.
* Đối với phụ huynh:
- Phụ huynh đã có những nhận thức đúng đắn hơn về công tác CSNDGD trẻ cũng như nội dung giáo dục quyền cong người cho trẻ.
- Yên tâm, tin tưởng khi gửi con em vào lớp, phụ huynh tích cực hỗ trợ cũng như phối kết hợp cùng giáo viên trong công tác CSNDGD trẻ
* Đối với trẻ:
- Trẻ được đảm bảo các quyền của trẻ em.
- Trẻ biết được những quyền cơ bản mà mình được hưởng, biết tôn trọng quyền của người khác đồng thời đã nhận thức được bổn phận, trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với bản thân, với người thân và cộng đồng.
- Trẻ có thái độ và hành vi đúng đắn, phù hợp với quyền và bổn phận của mình, được rèn luyện kỹ năng giao tiếp kỹ năng xã hội
- Trẻ mạnh dạn, tự tin hơn trong việc bảo vệ quyền lợi cá nhân, có các kỹ năng ban đầu về bảo vệ quyền của mình
Các kết quả minh chứng về sự tiến bộ của học sinh khi áp dụng biện pháp:
STT
Tiêu chí khảo sát
Đầu năm
Cuối năm
Đạt
C. đạt
Đạt
C. đạt
Số HS
Tỉ lệ %
Số HS
Tỉ lệ
Số HS
Tỉ lệ
Số HS
Tỉ lệ
1
Trẻ hào hứng, mạnh dạn, tự tin tham gia các hoạt động tại lớp
8/20
40%
12/20
60%
37/39372333337/3937/3937/3937/3937/3937/3937/3937/3937/39 20/220/20
100%
0/20
0%
2
Trẻ có những hiểu biết về quyền con người
5/20
25%
15/20
75%
16/20
80%
4/20
20%
3
Trẻ có kiến thức về bảo vệ bản thân
7/20
35%
13/20
65%
19/20
95%
3/20
5%
4
Trẻ biết tôn trọng quyền lợi của người khác
6/20
30%
14/20
57%
17/20
85%
4/20
15%
5
Trẻ biết hơp tác, chia sẻ với bạn bè
7/20
35%
13/20
65%
19/20
95%
5/20
5%
V. Đánh giá phạm vi ảnh hưởng của Sáng kiến:
Qua việc triển khai áp dụng sáng kiến “Một số biện pháp tích hợp giáo dục quyền con người trong các hoạt động cho trẻ 4-5 tuổi tại trường mầm non. ” Các biện pháp của đề tài này được tôi áp dụng có hiệu quả đối với học sinh 4-5 tuổi trong lớp 4 Tuổi D trong tất cả các hoạt động: đón trả trẻ, thể dục sáng, hoạt động học tập, vui chơi, hoạt động ăn ngủ vệ sinh. Sáng kiến còn có khả năng áp dụng ở tất cả các lớp trong khối 4 tuổi cũng như tất cả các độ tuổi khác nhau trong trường mầm non Nam Hải và tôi tin với những biện pháp của mình còn có thể vận dụng, áp dụng được cho tất cả các độ tuổi ở các trường mầm non trong huyện đều đem lại hiệu quả.
* Các tài liệu kèm theo sáng kiến:
* Ảnh minh họa sáng kiến được áp dụng trong thực tế
Hình ảnh 1: Tập huấn bồi dưỡng chuyên môn về giáo dục quyền con người
IMG20230221082809
IMG_256
Hình ảnh 2 : Trang trí ngoài lớp học
Description: Kĩ năng sống: Quy tắc 5 ngón tay. | Mầm non Chim Én
Hình ảnh 3: Dạy trẻ kỹ năng bảo vệ bản thân theo quy tắc 5 ngón tay
Hình ảnh 4: Cô dạy truyện Tích chu
Hình ảnh 5: Trẻ thiết kế ngôi nhà
image_6483441 (12)
IMG_6017
Hình ảnh 6: Hoạt động vui chơi của bé
C:\Users\Admin\Downloads\IMG_4484.jpg
Hình ảnh7: Bé vui đón Tết trung thu
VI. Cam kết không sao chép, hoặc sao chép bản quyền.
Trên đây là báo cáo sáng kiến của tôi nhằm tích hợp giáo dục quyền con người vào các hoạt động cho trẻ 4- 5 tuổi ở trường mầm non . Đây là báo cáo do tôi tự nghiên cứu và trình bày lần đầu tiên, không sao chép không vi phạm bản quyền, các biện pháp thực hiện mà tôi đưa ra đã được áp dụng trong thực tế và chưa từng được đăng tải trên mạng internet, chưa từng được công bố trên sách, báo. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Nam Hải, ngày 20 tháng 05 năm 2025
CÁC CƠ QUAN ĐƠN VỊ
ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
(xác nhận)
(Ký tên, đóng dấu)
TÁC GIẢ SÁNG KIẾN
UBND HUYỆN TIỀN HẢI
TRƯỜNG MN NAM HẢI
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Nam Hải, ngày 20 tháng 5 năm 2025.
GIẤY XÁC NHẬN
HIỆU QUẢ ÁP DỤNG, PHẠM VI ẢNH HƯỞNG CỦA SÁNG KIẾN
1.Thông tin chung về Sáng kiến:
Tên Sáng kiến: “Một số biện pháp tích hợp giáo dục quyền con người trong các hoạt động cho trẻ 4-5 tuổi tại trường Mầm non”.
Tác giả sáng kiến:
Chức vụ: Giáo viên lớp 4-5 tuổi D
Đơn vị công tác: Trường Mầm non
2. Đơn vị đã áp dụng Sáng kiến
Tên đơn vị(tổ chức): Trường Mầm non
Địa chỉ:
Thời gian áp dụng: Từ ngày 05 tháng 9 năm 2024 đến ngày 20 tháng 5 năm 2025
Giải pháp áp dụng: 4 biện pháp
Biện pháp 1: Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho bản thân
Biện pháp 2: Xây dựng môi trường giáo dục đảm bảo quyền của trẻ em
Biện pháp 3: Tích hợp giáo dục quyền con người thông qua các hoạt động tại trường Mầm non
Biện pháp 4: Làm tốt công tác phối kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội .
*Hiệu quả về mặt kinh tế ( Giá trị làm lợi tính thành tiền):
Khi thực hiện một số biện pháp tích hợp giáo dục quyền con người trong các hoạt động cho trẻ 4- 5 tuổi tôi nhận ra rằng đây là một số biện pháp rất hiệu quả mà rất tiết kiệm không hề tốn kém về kinh phí. Làm tốt công tác vận động phụ huynh quyên góp những nguyên vật liệu sẵn có địa phương cũng như tái chế phế liệu đã qua sử dụng để làm đồ dùng đồ chơi, xây dựng môi trường thân thiện tích cực, vận động phụ huynh phối kết hợp cùng nhà trường tổ chức các ngày hội ngày lễ cho trẻ nhằm đảm bảo thực hiện đầy đủ các quyền của trẻ. Qua đó giúp giảm bớt chi phí, tiết kiệm được nguồn kinh phí cho nhà trường khoảng gần 7 triệu đồng cho việc mua sắm các đồ dùng, đồ chơi, học liệu để trang trí trường lớp, tổ chức các ngày hội, ngày lễ cho trẻ.
*Hiệu quả về mặt xã hội:
a.Giá trị làm lợi cho môi trường:
Việc xây dựng môi trường đảm bảo quyền trẻ em góp phần quan trọng vào việc xây dựng một môi trường đảm bảo quyền cho trẻ em, đó là một môi trường giáo dục thân thiện, tích cực, lấy trẻ làm trung tâm. Vừa đảm bảo các quyền cho trẻ em vừa giáo dục cho trẻ có ý thức về bổn phận, trách nhiệm với bản thân, người thân và cộng đồng.Qua đó tuyên truyền tới phụ huynh và cộng đồng cùng chung tay trong việc chăm sóc giáo dục trẻ, xây dựng một môi trường vui vẻ, lành mạnh, hạnh phúc cho trẻ mầm non, những chủ nhân tương lai của đất nước. Góp phần chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục những mầm non tương lai của đất nước phát triển một cách toàn diện hơn.
b. Giá trị làm lợi cho an toàn lao động:
- Tôi đã tiến hành xây dựng được môi trường lớp học đảm bảo quyền trẻ em từ môi trường bên trong cũng như môi trường bên ngoài lớp học luôn sạch sẽ, an toàn, thân thiện gần gũi với trẻ, giúp trẻ có thể lấy đồ dùng đồ chơi và cất đi một cách thuận tiện an toàn.
- Trẻ được trải nghiệm, khám phá, sử dụng những đồ dùng đồ chơi đảm bảo an toàn, thẩm mĩ không gây thương tích và dễ sử dụng.
c. Giá trị làm lợi khác:
* Đối với giáo viên:
- Bản thân tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong việc đưa giáo dục quyền con người vào trong các hoạt động trong ngày cho trẻ mầm non.
- Việc lựa chọn và giáo dục quyền con người cho trẻ ngày càng thiết thực, gần gũi, linh hoạt, dễ hiểu đối với trẻ và được trẻ tiếp nhận một cách nhẹ nhàng, ghi nhớ rất lâu và sâu hơn.
- Được Ban giám hiệu và đồng nghiệp đánh giá và ghi nhận có sự tiến bộ rõ rệt về chuyên môn nghiệp vụ, có nhiều sáng tạo trong việc lồng ghép tích hợp nội dung giáo dục quyền con người vào trong các hoạt động cho trẻ.
- Được phụ huynh tin tưởng, tín nhiệm và yên tâm khi gửi con vào lớp, tích cực phối kết hợp và đồng hành cùng cô trong công tác CSNDGD trẻ nói chung và giáo dục quyền con người cho trẻ nói riêng.
* Đối với phụ huynh:
- Phụ huynh đã có những nhận thức đúng đắn hơn về công tác CSNDGD trẻ cũng như nội dung giáo dục quyền cong người cho trẻ.
- Yên tâm, tin tưởng khi gửi con em vào lớp, phụ huynh tích cực hỗ trợ cũng như phối kết hợp cùng giáo viên trong công tác CSNDGD trẻ
* Đối với trẻ:
- Trẻ được đảm bảo các quyền của trẻ em.
- Trẻ biết được những quyền cơ bản mà mình được hưởng, biết tôn trọng quyền của người khác đồng thời đã nhận thức được bổn phận, trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với bản thân, với người thân và cộng đồng.
* Trẻ có thái độ và hành vi đúng đắn, phù hợp với quyền và bổn phận của mình, được rèn luyện kỹ năng giao tiếp kỹ năng xã hội
* Trẻ mạnh dạn, tự tin hơn trong việc bảo vệ quyền lợi cá nhân, có các kỹ năng ban đầu về bảo vệ quyền của mình
Các kết quả minh chứng về sự tiến bộ của học sinh khi áp dụng biện pháp:
STT
Tiêu chí khảo sát
Đầu năm
Cuối năm
Đạt
C. đạt
Đạt
C. đạt
Số HS
Tỉ lệ %
Số HS
Tỉ lệ
Số HS
Tỉ lệ
Số HS
Tỉ lệ
1
Trẻ hào hứng, mạnh dạn, tự tin tham gia các hoạt động tại lớp
8/20
40%
12/20
60%
37/39372333337/3937/3937/3937/3937/3937/3937/3937/3937/39 20/220/20
100%
0/20
0%
2
Trẻ có những hiểu biết về quyền con người
5/20
25%
15/20
75%
16/20
80%
4/20
20%
3
Trẻ có kiến thức về bảo vệ bản thân
7/20
35%
13/20
65%
19/20
95%
3/20
5%
4
Trẻ biết tôn trọng quyền lợi của người khác
6/20
30%
14/20
57%
17/20
85%
4/20
15%
5
Trẻ biết hơp tác, chia sẻ với bạn bè
7/20
35%
13/20
65%
19/20
95%
5/20
5%
Đánh giá phạm vi ảnh hưởng của Sáng kiến:
Đề tài sáng kiến" Một số biện pháp tích hợp giáo dục quyền con người trong các hoạt động cho trẻ 4 -5 tuổi tại trường Mầm non" được áp dụng tại Trường Mầm non Nam Hải và đã đạt được hiệu quả cao. Các biện pháp trên cũng có thể áp dụng, nhân rộng đối với các trường mầm non khác.
Chúng tôi xin cam kết và chịu trách nhiệm về các thông tin trong giấy xác nhận này./.
TỔ CHỨC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KÝ XÁC NHẬN
(Ký và ghi rõ họ tên)
UBND HUYỆN TIỀN HẢI
TRƯỜNG MẦM NON NAM HẢI
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Nam Hải, ngày 20 tháng 05 năm 2025
GIẤY CHỨNG NHẬN
Hiệu quả áp dụng, phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến
HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG MẦM NON NAM HẢI
CHỨNG NHẬN
Họ và tên:
Đơn vị công tác: Trường Mầm non
Chức vụ: Giáo viên lớp 4 tuổi D
Là tác giả của sáng kiến: “Một số biện pháp tích hợp giáo dục quyền con người trong các hoạt động cho trẻ 4 -5 tuổi tại trường Mầm non”
Sáng kiến được công nhận có hiệu quả áp dụng, phạm vi ảnh hưởng trong trường mầm non Nam Hải theo Quyết định số 24/QĐ-TMN, ngày 20 tháng 05 năm 2025 của Hiệu trưởng trường Mầm non Nam Hải.
Giấy chứng nhận có giá trị kể từ ngày ký./.
Nam Hải, ngày 20 tháng 05 năm 2025
HIỆU TRƯỞNG






Để lại một bình luận